Social Icons

Pages

Thứ Ba, 8 tháng 4, 2008

Khắc phục sự cố âm thanh trong máy tính (sưu tầm)

Không có âm thanh; trước có âm thanh nhưng nay bị mất; trước nghe hay nhưng nay nghe dở hoặc bị biến dạng; âm thanh vẫn phát từ các file trên ổ cứng nhưng từ CD thì không; âm thanh bị mất trên một số kênh...

Hầu hết những sự cố về audio trong hệ thống máy tính phát sinh từ việc gắn ráp sai cáp, sai khe cắm, cài đặt driver không đúng phiên bản của nhà sản xuất hoặc do xung đột phần mềm trong hệ thống. Nếu sự cố audio xảy ra mặc dù bạn chưa hề đụng chạm gì đến hệ thống (cài đặt thêm phầm mềm, virus...) thì nguyên nhân có lẽ xuất phát từ chỗ kết nối với mainboard (card rời) hoặc do việc lỗi vận hành (chỉnh âm lượng sounds về 0 hay chưa cắm dây loa).

Mặt khác, vấn đề về audio cũng thường xảy ra khi bạn lắp đặt một card rời hoặc khi bạn tiến hành cấu hình lại hệ thống, nâng cấp driver tổng thể thiết bị dẫn đến xung đột. Mỗi khi gặp sự cố về audio, bạn hãy bình tĩnh và tiến hành kiểm tra theo từng bước liệt kê dưới đây, rất có thể sự cố sẽ được khắc phục một cách dễ dàng:

1. Kiểm tra xem Volume của hệ thống có đang ở mức 0% không?

2. Shutdown và Restart lại hệ thống. Có thể Windows sẽ tự sữa được lỗi này.

3. Shutdown và tắt nguồn, kiểm tra lại dây kết nối từ loa đến lỗ cắm trên mainboard, dây cắm nguồn loa, công tắc nguồn của loa phía sau, núm Volume của loa...

4. Thông thường các sound card đều đi kèm trình kiểm tra thiết bị trong driver. Khởi động nó lên và tiến hành kiểm tra hoàn chỉnh.

Nếu sự cố xuất hiện sau khi bạn cài đặt một hệ thống mới, hoặc bạn thay một sound card khác hoặc nâng cấp sound card thay cho sound onboard:

1. Xác định loa đã được kết nối đúng jack và phần tiếp xúc giữa card và main. Đã vô hiệu hóa sound onboard chưa?

2. Xác định chính xác một lần nữa rằng card bạn vừa gắn có tương thích với mainboard hiện tại không, thông qua tài liệu hướng dẫn đi kèm. Tất cả những thiết bị không được liệt kê trong đó có thể không đảm bảo tương thích.

3. Remove driver, khởi động lại hệ thống và cài driver lại lần nữa từ đĩa driver đi kèm main hoặc sound card.

4. Remove driver, shutdown máy tính, gắn sound card sang một cổng PCI khác, tiến hành cài đặt driver và nhận diện lại thiết bị bình thường.

5. Cuối cùng nếu vẫn không có kết quả thì có thể driver của bạn không đúng với sound card. Nếu đó là driver đi kèm trong bộ sound card thì nguyên nhân còn lại là sound card bị lỗi, bạn cần đem đến nơi bảo hành để được kiểm tra, sửa chữa.

Nếu sự cố xảy ra trong khi hệ thống đang hoạt động tốt trước đó:

1. Có thể bạn đã install thêm một software nào đó gây xung đột. Nguyên nhân là do các thành phần .dll trong software đó không tương thích với audio adapter, hoặc nó cài đè, remove mất file .dll của audio adapter. Để khắc phục bạn hãy thử remove driver của audio adapter và tiến hành cài lại driver.

2. Sau khi bạn cập nhật driver cho rất nhiều thiết bị trong hệ thống hoặc cập nhật thêm một thiết bị nào khác dẫn đến xung đột với audio adapter trong hệ thống, bạn cũng tiến hành tiến hành cài lại driver cho audio adapter. Nếu vẫn không được bạn phải remove tất cả driver vừa cập nhật và cài lại những bản cũ ổn định hơn.

3. Cuối cùng vẫn không khắc phục được sụ cố thì vấn đề thuộc về phần cứng, sound card bị hỏng trong quá trình sử dụng (rất ít khi xảy ra).

Âm thanh trên máy tính vẫn phát nhưng CD thì không:

Âm thanh trên máy tính là âm thanh kỹ thuật số, được truyền trực tiếp đến audio adapter thông qua bus. Một vài ổ đĩa CD-ROM thế hệ cũ đòi hỏi phải có dây kết nối bên trong tức ngõ audio-out phía sau ổ CD-ROM đến ngõ kết nối âm thanh trên mainboard (đối với những ổ CD-ROM hiện nay thì không cần).

Nếu bạn không có sẵn dây để kết nối thì có thể khắc phục tạm thời tình huống này bằng cách dùng jack 3 li cắm vào ngõ headphone trên ổ CD-ROM và cắm trực tiếp vào cổng Line-in trên audio adapter.

Một số kênh (channel) không phát âm thanh:

1. Kiểm tra xem Audio Balance Control trong mục Sounds & Device có bị lệch sang một phía hay không, nó nên được nằm ở giữa để đảm bảo phát đồng đều mọi kênh.

2. Kiểm tra jack nối giữa loa (hay headphone) với Out-line của audio adapter, việc jack cắm lỏng có thể dẫn đến việc loa không nhận đủ tín hiệu để phát đầy các kênh.

3. Bạn đang sử dụng một jack nối, đầu chuyển mono, các jack chuyển đổi, nối dài, 2 li (mm) sang 3 li, hay 3 li nối dài... Có phân biệt 2 loại: một loại đảm bảo chất lượng không đổi, một loại chỉ đạt được chất lượng mono sau khi kết nối, chuyển đổi.

4. Driver thiết bị chưa được cài (mặc dầu Windows XP có thư viện driver rất lớn nhưng nó không thể nào đầy đủ cho mọi thiết bị phần cứng luôn được cập nhật), hoặc cài không đúng phiên bản. Cài bổ sung hoặc cài lại cho hợp lý. Khởi động lại máy để xem kết quả.

5. Một lý do rất hiếm khi xảy ra nhưng cũng phải kể đến đó là việc ampli hay loa bị hư một kênh, mặc dầu những kênh còn lại vẫn hoạt động.

Thứ Ba, 1 tháng 4, 2008

Xây dựng mạng không dây không cần router không dây (sưu tầm)

Rất nhiều người không biết rằng nếu chạy Windows XP hoặc Windows Vista thì hoàn toàn có thể thiết lập một mạng không dây ở nhà hoặc văn phòng mà không cần đến router băng thông rộng không dây hoặc điểm truy cập không dây, hoàn toàn có thể tiết kiệm được chi phí. Trong hướng dẫn này, chúng tôi sẽ hướng dẫn từng bước một trong việc thiết lập một kiểu mạng không dây, kiểu được biết đến với cái tên ad-hoc.

Hiện đang có ngày càng nhiều người sẵn lòng xây dựng một mạng không dây riêng cho mình. Mạng không dây có thể thiết lập tại nhà hoặc văn phòng, từ đó bạn có thể chia sẻ file, sử dụng máy in và truy cập Internet mà không cần phải chạy dây cáp mạng loằng ngoằng vào các máy tính trong mạng. Điểm tuyệt vời nhất là trong trường hợp bạn có các máy tính nằm vị trí khó có thể thiết lập hệ thống cáp mạng chạy dây hoặc trong trường hợp bạn muốn tự do truy cập mạng và Internet bằng laptop ở bất cứ chỗ nào bên trong văn phòng hoặc nhà.

Rõ ràng chúng ta đang nói về các máy tính laptop với khả năng kết nối mạng không dây – tất cả các laptop đều có tính năng này. Nếu bạn đang sử dụng máy desktop hoặc laptop mà không có khả năng kết nối mạng không dây thì thứ cần thực hiện đầu tiên là mua một card mạng không dây cho mỗi máy tính mà bạn muốn kết nối vào mạng cũng như Internet.

Để thiết lập một mạng không dây riêng, bạn cần phải có:

  • Một kết nối Internet băng thông rộng;
  • Một card mạng không dây đã được cài đặt trên mỗi máy tính muốn kết nối với mạng;
  • Một router băng thông rộng không dây (không bắt buộc).

Thông thường thành phần phần cứng có tên gọi router băng thông rộng không dây hoặc điểm truy cập là cần thiết. Tuy nhiên trong hướng dẫn này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách thiết lập một mạng không dây mà không cần đến thiết bị này, cho phép bạn tiết kiệm được chi phí. Tuy nhiên, bạn cũng cần biết trước những nhược điểm của việc không có một router không dây:

  • Máy tính có kết nối Internet băng thông rộng luôn luôn phải bật. Nếu bạn tắt máy tính này thì các máy tính khác sẽ mất kết nối với Internet.
  • Mạng của bạn sẽ kém an toàn vì các router băng thông rộng thường tích hợp cả tường lửa phần cứng trong đó.
  • Vấn đề mã hóa được sử dụng bởi kết nối ad-hoc thường “yếu hơn” mã hóa được cung cấp bởi các router băng thông rộng không dây, chính vì vậy nó dễ dàng bị một hacker tấn công (chúng tôi không khuyên các bạn sử dụng giải pháp này cho việc truyền tải những dữ liệu quan trọng).
  • Tốc độ mạng bị hạn chế dưới 11MBps, thậm chí nếu bạn đang sử dụng card 54MBps trong mạng của mình.

Bạn cũng có thể cấu hình một mạng ad-hoc dù đã có một router băng thông rộng nhưng không có khả năng không dây. Trong trường hợp này, bạn đừng quên mục thứ hai đã được liệt kê ở trên, nhưng các mục khác vẫn hoàn toàn đúng. Thêm vào đó có một thứ cũng rất quan trọng nếu đã có một router băng thông rộng được cài đặt trong mạng: bạn cần phải thay đổi dải địa chỉ IP của mạng nếu nó đã được cấu hình sử dụng dải 192.168.0.x thành 192.168.1.x vì dịch vụ chia sẻ Internet của Windows cũng sử dụng dải 192.168.0.x và khi đó bạn sẽ bị xung đột địa chỉ IP trong mạng của mình. Cấu hình này được thực hiện bằng cách vào chương trình cài đặt của router (thường mở http://192.168.0.1 từ bất kỳ một máy tính nào được kết nối với nó).

Card mạng không dây

Như những gì chúng tôi đã đề cập, bạn cần phải mua một card mạng không dây cho mỗi máy tính muốn kết nối với mạng. Các card mạng này phải tương thích với ít nhất một giao thức IEEE 802.11. Có một số giao thức và phổ biến nhất là IEEE 802.11b, 802.11g và 802.11a. Sự khác nhau chính giữa chúng là tốc độ: giao thức 802.11b có thể truyền tải dữ liệu lên đến 11MBps, còn g và a có thể truyền tải lên đến 54MBps (sự khác nhau giữa g và a chính là phổ tần số mà chúng hoạt động). Giao thức mới được phát hành là n, giao thức này sẽ có tốc độ truyền tải lớn nhất lên đến 540MBps.

Một số card mạng có tốc độ 108MBps, tuy nhiên trong thực tế các card 54MBps lại đang sử dụng kỹ thuật nén dữ liệu và để chúng đạt được tốc độ này thì router băng thông rộng của bạn và card mạng được cài đặt trên máy tính cần phải có công nghệ này và phải được làm từ cùng một nhà máy sản xuất, ngược lại chúng sẽ không làm việc như card b, g và a thông thường. Công nghệ này cũng không làm việc trong các mạng ad-hoc, nghĩa là các mạng không sử dụng router băng thông rộng.

Theo lý thuyết kịch bản tốt nhất là phải có tất cả các máy tính đều sử dụng card 54MBps (hoặc 108MBps). Mặc dù vậy, bạn sẽ bị hạn chế bởi tốc độ kết nối mạng của mình. Chính vì vậy bạn không sử dụng mạng của mình cho việc truyền tải file giữa các máy tính, việc mua card 54MBps là không sáng suốt, đơn giản là vì tốc độ kết nối Internet của bạn sẽ thấp hơn rất nhiều. Ví dụ, nếu bạn có một kết nối 1MBps thì sẽ có một mạng có khả năng truyền tải dữ liệu nhanh gấp 54 lần so với kết nối Internet. Một mạng 11MBps sẽ làm việc tốt hơn cho bạn trong trường hợp này (nó sẽ nhanh hơn đến khoảng 11 lần cho kết nối Internet). Chính vì vậy bạn có thể giảm được chi phí bằng cách mua card 11MBps – chúng có làm việc tốt hơn với những người dùng trung bình. Cũng vậy, các mạng ad-hoc cũng đơn giản không đáng tốn nhiều tiền. Nếu bạn thực sự muốn có một kết nối 54MBps (hoặc 108Mbps) thì nên thiết kế một mạng không dây có sử dụng router.

Phân tích một chút cho các bạn dễ hiểu, nếu bạn có một kết nối Internet 1MBps hoặc 2MBps thì bạn vẫn phải dừng lại ở tốc độ đó dù có sử dụng card không dây 11MBps hay 54MBps đi chăng nữa.

Thậm chí nếu ngay cả sau những gì chúng tôi nói trên bạn vẫn quyết định mua một card mạng không dây 54MBps, thì phải bảo đảm rằng card mạng này phải tương thích với chuẩn 802.11b, vì nhờ đó bạn có thể xây dựng một mạng không dây mà không cần sử dụng router, vì các mạng ad-hoc chỉ làm việc ở tốc độ 11MBps. Cũng là một ý tưởng tốt nếu bạn mua tất cả các card đều có cùng chuẩn 54MBps (a hoặc g), phòng khi trong tương lai bạn quyết định nâng cấp mạng bằng cách cài đặt một router không dây thì tất cả các card này đều có thể đáp ứng được khả năng truyền tải 54MBps.

Có hai kiểu card mạng không dây hiện có trên thị trường: USB và add-on. Thông thường card add-on chạy ổn định hơn. Card add-on cho các máy tính desktop được cung cấp cho slot PCI (có thể cho slot PCI Express x1 trong tương lai) và card add-on của các máy tính laptops được cung cấp cho slot PC Card (PCMCIA) hoặc slot Express Card. Nếu laptop của bạn không có card mạng không dây đi kèm thì cần phải kiểm tra xem nó có khe cắm mở rộng hay không (PC Card hoặc Express Card) và mua một card không dây add-on cho nó (PC Card có thể là một lựa chọn sáng suốt vì các slot của Express Card cũng chấp nhận các thiết bị này).

Trong hình 1 bạn có thể thấy một card mạng không dây loại PCI add-on cho các máy desktop, trong hình 2 là một card mạng không dây USB có thể sử dụng cho các máy desktop và laptop, còn trong hình 3 là một card mạng không dây PC Card add-on cho các máy laptop.


Hình 1: Card mạng không dây PCI add-on


Hình 2: Card mạng không dây USB


Hình 3: Card mạng không dây PC Card

Việc cài đặt card này cần phải được thực hiện theo hướng dẫn sử dụng của card. Thông thường nó rất đơn giản: chỉ cần kết nối thiết bị với máy tính (nếu cài đặt một card PCI trên máy desktop thì bạn cần tắt máy và mở case), bật máy trở lại và cài đặt driver của card.

Với card PCI như thể hiện trong hình 1 (một card D-Link DWL-G510), chúng tôi cần phải cài đặt driver trước khi lắp đặt card vào máy tính.

Cài đặt card mạng không dây vào các máy tính sẽ được kết nối với mạng không dây. Bước tiếp theo là cấu hình máy chủ, nghĩa là máy tính có kết nối băng thông rộng. Nếu bạn muốn chia sẻ kết nối Internet của mình bằng một router băng thông rộng thông thường (nghĩa là không có khả năng không dây) thì bất kỳ máy tính nào đã được kết nối với router đều có thể được cấu hình là máy chủ. Trong trường hợp này bạn chỉ cần nhớ rằng: cần thay đổi dải địa chỉ IP của mạng nếu nó đã được cấu hình sử dụng dải 192.168.0.x thành 192.168.1.x vì dịch vụ chia sẻ Internet của Windows sử dụng dải 192.168.0.x và khi đó bạn sẽ bị xung đột các địa chỉ IP trong mạng của mình. Cấu hình này được thực hiện bằng cách vào chương trình cài đặt của router (thông thường là mở http://192.168.0.1 từ bất kỳ máy tính nào đã đựợc kết nối tới nó).

Cấu hình máy chủ

Bạn cần cấu hình máy chủ, nghĩa là máy tính có kết nối băng thông rộng. Như những gì chúng tôi đã đề cập, nếu bạn tắt máy chủ thì tất cả các máy tính sẽ mất truy cập vào Internet.

Thực hiện theo hướng dẫn tường bước dưới đây:

1. Vào Start > Control Panel > Network Connections. Kích chuột phải vào kết nối không dây (thường vẫn được gọi là “Wireless Network Connection”) và chọn Properties.


Hình 4: Chọn thuộc tính của kết nối không dây

2. Trong cửa sổ xuất hiện, kích vào tab Wireless Networks (xem trong hình 5). Bảo đảm rằng không có mạng không dây nào được liệt kê dưới Preferred Networks. Nếu bạn thấy có mạng nào ở đây, hãy lần lượt xóa chúng đi.


Hình 5: Cấu hình mạng không dây

3. Kích vào nút Advanced và cửa sổ như trong hình 6 sẽ xuất hiện. Chọn “Computer-to-computer (ad-hoc) networks only” và kích Close.


Hình 6: Cấu hình mạng theo kiểu ad-hoc

4. Cửa sổ thể hiện trong hình 5 sẽ hiện lại một lần nữa. Lúc này kích vào Add và cửa sổ mới sẽ xuất hiện như trong hình 7. Bạn cần phải điền vào đó một số thứ dưới đây:

  • Network Name (SSID): Đây sẽ là tên mạng của bạn. Đây là cách các máy tính sẽ gọi mạng. Trong trường hợp của này, chúng tôi gọi nó là “MyHome”.
  • Network Authentication: Open.
  • Data encryption: WEP.
  • Hủy chọn “The key is provided for me automatically”
  • Cấu hình khóa bảo vệ. Đây là mật khẩu sẽ được sử dụng để mã hóa dữ liệu truyền tải trong mạng, ngăn chặn hàng xóm lướt Web “chùa” và cũng ngăn chặn người khác xem hoặc xóa các file của bạn, nếu tính năng chia sẻ file được kích hoạt trong mạng.


Hình 7: Tạo mạng không dây riêng

5. Sau khi kích OK, bạn sẽ thấy mạng vừa tạo xuất hiện dưới Preferred Networks, xem trong hình 8. Mạng lúc này vẫn bị liệt kê với một chữ “x” đỏ, đây là điều hết sức bình thường và bạn không phải lo lắng nhiều.


Hình 8: Mạng đã được liệt kê

6. Lúc này bạn cần chia sẻ kết nối Internet. Hãy chú ý vì điều này được thực hiện trên card mạng có Internet băng thông rộng đã kết nối, không phải card mạng không dây. Vào Network Connections (Start > Control Panel), kích chuột phải vào card mạng đang kết nối Internet băng thông rộng và sau đó chọn Properties. Trong cửa sổ Properties, bạn kích tab Advanced. Ở tab này, bạn tích vào hộp “Allow other network users to connect thru this computer’s Internet connection” và hủy chọn hộp “Allow other network users to control or disable the shared Internet connection”, như trong hình 9.


Hình 9: Chia sẻ kết nối Internet

7. Kích OK và lúc này bạn sẽ nhìn thấy từ “Shared” nằm dưới tên của kết nối mạng Internet băng thông rộng (thường được gọi là “Local Area Connection”), xem trong hình 10. Kết nối không dây của bạn sẽ vẫn có chữ “Not Connected”; không vấn đề gì cả. Nó sẽ chỉ thay đổi thành “Connected” sau khi có một máy tính nào đó đã nhập vào mạng.


Hình 10: Kết nối Internet đã được chia sẻ

8. Lúc này máy chủ đã được cấu hình đúng, bạn cần cấu hình các máy tính khác truy cập vào mạng không dây.

Cấu hình các máy tính khác

Bạn đã cấu hình xong máy chủ, đây là lúc bạn cần phải cấu hình các máy tính khác cần truy cập vào mạng không dây. Cấu hình này rất đơn giản; bạn chỉ cần theo các bước dưới đây:

9. Nếu bạn đã cấu hình đúng máy chủ thì mạng không dây sẽ được liệt kê trong danh sách mạng tất cả các máy tính có card mạng không dây bên trong dải của card đã được cài đặt trên máy chủ. Chỉ cần kích vào biểu tượng mạng không dây có trên task bar và kích đúp vào kết nối không dây của bạn trong Network Connections (Start > Control Panel) để xem danh sách các mạng không dây đang có. Như những gì thấy trong hình 11, chúng ta có một số mạng không dây (tất cả đều là hàng xóm của mình, như vậy vấn đề mã hóa ở đây là rất quan trọng). Tất cả những gì bạn cần thực hiện là kích vào mạng của mình (trong trường hợp ví dụ này là MyHome).


Hình 11: Danh sách các mạng không dây

10. Sau khi kích đúp vào mạng của bạn, Windows sẽ hỏi mật khẩu mạng (mật khẩu mà chúng ta đã cấu hình trong bước 4), xem hình 12:


Hình 12: Nhập khóa mật khẩu (password) để truy cập vào mạng không dây

11. Sau khi kích OK, trạng thái mạng sẽ được liệt kê “Acquiring Network Address” và sau đó sẽ thay đổi thành “Connected”, bạn có thể xem trong hình 13.


Hình 13: Lúc này bạn đã kết nối vào mạng

12. Sau đây bạn có thể truy cập vào Internet bằng kết nối Internet có sẵn trong máy chủ. Kiểm tra mạng bằng cách mở trình duyệt web (Internet Explorer hoặc Firefox) và nhập vào đó một địa chỉ web mà bạn đã biết.

13. Lúc này trên máy chủ kết nối không dây sẽ xuất hiện với dòng chữ “connected”, xem trong hình 14. Như những gì chúng tôi đã nói từ trước, kết nối không dây trên máy chủ sẽ xuất hiện “connected” chỉ khi có một máy tính khác đã kết nối vào mạng.


Hình 14: Kết nối không dây của máy tính chủ xuất hiện “Connected”.

14. Để ngăn chặn các vấn đề không ổn định của mạng không dây, chúng tôi khuyên bạn xóa tất cả các mạng khác xuất hiện trong danh sách Preferred Networks trên tất cả các máy tính. Bạn có thể thực hiện bằng cách kích chuột phải vào kết nối không dây trong Network Connections (Start > Control Panel), chọn Properties, khi cửa sổ Properties xuất hiện, bạn kích tab Wireless Networks. Xóa tất cả các mạng khác đã liệt kê trong Preferred Networks trừ mạng của bạn, xem trong hình 15.


Hình 15: Xóa tất cả các mạng khác và chỉ để lại mạng của chính bạn

15. Lúc này bạn có thể chia sẻ kết nối Internet giữa các máy tính và cũng có thể cấu hình mạng của mình để chia sẻ máy in và file. Thứ tuyệt vời nhất về việc chia sẻ là các file và máy in mà bạn muốn chia sẻ không cần đặt trên máy chủ, chúng có thể được đặt ở bất kỳ máy tính nào trong mạng (tuy nhiên nếu bạn chia sẻ một máy in thì chúng tôi khuyên bạn nên kết nối máy in với máy chủ vì máy tính này sẽ luôn được bật).

Thứ Năm, 27 tháng 3, 2008

Chạy chế độ SATA trong Windows XP (sưu tầm)

Tới thời điểm hiện tại, ổ cứng chuẩn SATA đã quá thông dụng. Tuy nhiên hệ thống máy tính của bạn có thể không chạy đúng chế độ này dù bạn đã mua ổ cứng SATA.
Bạn có thể kiểm tra như sau: Mở Control Panel > System (System Properties), chọn tab Hardware > Device Manager.
Nếu bạn thấy mục SATA AHCI Controler như trong hình, máy đang nhận ổ cứng như một ổ SCSI và chạy SATA/AHCI một cách đúng đắn. Nếu không thì máy vẫn đang sử dụng ổ cứng SATA như một ổ IDE mà thôi, nghĩa là đang dùng UDMA như các ổ cứng IDE bình thường.

Do việc thiết lập SATA ban đầu khá phức tạp khi cài hệ điều hành cho máy (phải có ổ đĩa mềm chứa đúng driver và nhấn F6 khi khởi động cài đặt Windows XP) cho nên thông thường người cài đặt sẽ chọn chế độ IDE (trong BIOS Settings) cho ổ cứng để khỏi phải cài đặt SATA driver. Thiết lập như vậy sẽ không tận dụng được tốc độ của SATA vì chế độ IDE nhanh nhất cũng chỉ 133MB/s (UDMA-6).

Bài viết này giúp bạn sửa lại dễ dàng chế độ ổ cứng dùng SATA cho bo mạch chủ dùng chipset Intel trong hệ điều hành Windows XP.
Thực hiện tuần tự các bước sau:
1. Trước tiên xác định chipset của bo mạch chủ (mainboard). Để biết chính xác bạn nên xem lại sách hướng dẫn sử dụng của mainboard, hay lên trang web của nhà sản xuất để tham khảo. Ngoài ra có thể dùng CPUZ (tải miễn phí tại www.cpuid.com
) để xem.
2. Nếu chipset là một trong số sau: ICH9R, ICH8M, ICH8ME, ICH8R, ESB2, ICH7DH, ICH7MDH, ICH7R, ICH7M, ICH6M thì bo mạch chủ của bạn có hỗ trợ SATA. Tải về chương trình cài đặt cung cấp theo bài viết từ website TGVT. Giải nén. Nhấn đúp và chạy file install.cmd.
3. Khởi động lại máy, vào BIOS Settings và chuyển HDD mode từ IDE sang AHCI.
4. Máy vào Windows sẽ hiện Found new hardware và đòi hỏi driver. Bạn chọn Yes, this time only > Next, chọn Install from list or specific location (Advanced) > Next, chọn Include this, duyệt đến thư mục vừa giải nén, nhấn Next và OK.
Nếu được đòi hỏi driver cho SCSI/RAID Host controller, bạn làm như trên nhưng thay vì chọn “Install from list” hãy chọn “Install software automatically”.
Sau đó máy sẽ yêu cầu khởi động lại. Chọn Yes và chúc mừng bạn, HDD giờ đây chạy đúng chế độ AHCI tốc độ lên đến 300MB/s (cho SATA II).
5. Kiểm tra lại bằng cách mở System Properties bạn sẽ thấy xuất hiện SATA AHCI Controller trong IDE ATA/ATAPI controllers.
Bạn cũng có thể kiểm tra lại bằng các chương trình xem thông tin phần cứng khác như Everest hay Sisoft Sandra.

Giờ đây ổ cứng của bạn thực sự chạy đầy đủ tốc độ của một ổ cứng SATA, bạn sẽ thấy tốc độ truy cập ổ cứng nhanh hơn rất nhiều.


Ẩn ổ đĩa trong Window XP (sưu tầm)

Bạn có những tập tin quan trọng được lưu trữ trong một ổ đĩa nào đó mà không muốn người khác truy cập. Có một cách giúp bạn có thể giấu chúng đi khỏi những cặp mắt tò mò của người khác bằng cách ẩn đi ổ đĩa hiện hành.Bạn làm theo các bước sau:
1. Vào Start > Run > nhập vào lệnh diskpart > Enter.
2. Cửa sổ DOS xuất hiện, tiếp đó bạnh đánh lệnh list volume > Enter.
3. Nếu bạn muốn ẩn ổ đĩa C, bạn đánh lệnh select volume 2 (trong trường hợp này volume 2 ứng với ổ đĩa C)
4. Rồi đánh lệnh remove letter C (Thỉnh thoảng hệ thống sẽ tự động reboot lại máy tính)
Bây giờ vào lại My Computer bạn sẽ không thấy ổ C nữa. Tuy nhiên bạn cứ yên tâm vì dữ liệu trong ổ đĩa sẽ không bị mất đi. Nếu bạn muốn ổ đĩa xuất hiện trở lại. Bạn chỉ cần làm lại các bước trên, tuy nhiên ở bước 4 ban thay lệnh remove letter C bằng lệnh assign letter C.

Hoặc sử dụng cách này, nguy hiểm nha, ai không rành về hệ thống thì đừng thử việc này ở nhà ^^
Cách này toàn diện hơn, nhưng nó cũng có thể giúp PC của bạn "đơ như trái bơ" nếu bạn phạm sai lầm, cẩn thận nha.
Vào Start--> Run--> regedit
Trong cửa sổ registry editor, tìm tới HKEY_CURRENT_USER\Software\ Microsoft\ Windows \ CurrentVersion\ Policies\Explorer.
Tạo một DWORD Value mới (sử dụng chuột phải) và đặt tên là NoDrives. Gán cho NoDrives một giá trị là X (với X là các giá trị được qui định cho từng ổ đĩa):
·Ổ A thì X = 1
·Ổ B thì X = 2
·Ổ C thì X = 4
·Ổ D thì X = 8
·Ổ E thì X = 16
·Ổ F thì X = 32
·Ổ G thì X = 64 (luôn luôn là 1 số lũy thừa của 2)
Muốn giấu nhiều ổ đĩa cùng một lúc thì cộng tất cả các giá trị của từng ổ đĩa lại rồi gắn kết quả đó cho NoDrives. Chẳng hạn muốn giấu ổ C và ổ D thì gán vào giá trị là 12 (12=4 + 8). Trong trường hợp muốn bỏ toàn bộ các biểu tượng hiển thị các ổ cứng, ổ mềm. Hãy gán cho NoDrives giá trị 3FFFFFF.
Ðể tất cả các ổ đĩa hiện lên như cũ, chỉ cần xóa NoDrives đi là xong.

10 bí quyết tìm việc và thành công trong CNTT ở châu Á (sưu tầm)

Một số chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT) ở châu Á đưa ra 10 lời khuyên để giúp những người lao động thuộc lĩnh vực này, dù ở vai trò quản lý kinh doanh hay kỹ thuật, cũng có thể tìm được một việc làm dễ dàng và thành công trong nghề nghiệp ở Malaysia, Singapore và một số nước khác...

1. Gây sự chú ý

Sự chú ý đầu tiên mà ứng viên có thể tạo ra cho nhà tuyển dụng là thông qua bản tóm tắt thông tin về bản thân và quá trình làm việc (Curriculum Vitae - CV). Ashran Dato Ghazi, Tổng giám đốc điều hành (CEO) của Asiastream Group, một công ty ở Malaysia:nói: “Các nhà tuyển dụng xem xét rất nhiều CV mỗi ngày và vì vậy bạn cần phải biết cách gây sự chú ý nơi họ. Hãy thể hiện tính cách của mình qua CV.” Ghazi khuyên các sinh viên mới tốt nghiệp nên liệt kê toàn bộ những công việc mình đã làm ở trường đại học như là một cách xây dựng các thành tích cho mình trong CV. Đối với những người đã có kinh nghiệm làm việc, Yeo Gek Cheng, Giám đốc Hudsons IT&T (IT&Telecommunications) ở châu Á, khuyên rằng bên cạnh phạm vi công việc của mình nên nói thêm những thông tin khác, nhất là các thành tích trong công việc, các kỹ năng “cứng”. Yeo nói: “Các nhà tuyển dụng có xu hướng sơ tuyển các ứng viên dựa vào những kỹ năng “cứng” cơ bản của họ trước khi mời họ phỏng vấn để kiểm tra lại xem họ có thật sự phù hợp với công việc hay không. Tại các buổi phỏng vấn, các nhà tuyển dụng chủ yếu kiểm tra các kỹ năng “mềm” của ứng viên”.

Các chuyên gia khuyên rằng, một trong những cách tạo ra sự khác biệt cho mình là tranh thủ lấy các giấy chứng nhận chuyên môn.

2. Chuẩn bị một CV tốt

Nên chuẩn bị những CV khác nhau cho các công việc dự tuyển khác nhau, đó là lời khuyên của Stella Thevarakam, Giám đốc nhân sự khu vực của ISS Consulting, một công ty tư vấn công nghệ có các cơ sở ở Malaysia, Singapore, Thái Lan và Indonesia. Thevarakam nói: “Không nên làm những CV quá chung chung và gửi cho hàng loạt các tổ chức khác nhau. Ứng viên cần nhấn mạnh các sở trường, thế mạnh của mình. Cũng nên nêu ra các kinh nghiệm thực tế khi ứng viên tham gia vào các dự án mà ứng viên có sử dụng kiến thức của mình. Những hồ sơ như vậy thường có khả năng lọt vào vòng trong rất cao”. Thevarakam khuyên thêm rằng CV là phương tiện đầu tiên để các ứng viên tự giới thiệu mình với nhà tuyển dụng, vì vậy các ứng viên muốn tìm một cơ hội thử thách mới cần phải trình bày CV của mình một cách rõ ràng, đi sát vào công việc.

3. Sử dụng các mối quan hệ quen biết

Các mối quan hệ cá nhân sẽ trở nên rất hữu ích khi các ứng viên đi tìm một việc làm. Yeo của Hudsons IT&T nói: “Trong khi xem quảng cáo tuyển dụng trên báo chí, trên các trang web tuyển dụng, thông qua các dịch vụ tuyển dụng chuyên nghiệp vốn là những cách phổ biến để tìm việc, các ứng viên nên nhớ rằng tìm việc thông qua các mối quan hệ quen biết cũng có thể là một cách làm rất tốt”.

4. Có kỹ năng giao tiếp tốt

Robert Lim, Phó chủ tịch phụ trách khối doanh nghiệp của SMR Technologies, cho biết ở nhiều nước, điển hình như Malaysia, bên cạnh các kiến thức về kỹ thuật thì nhu cầu về lao động chuyên môn trong lĩnh vực CNTT có thể sử dụng được tiếng Anh tốt đang rất lớn. Ngoài kỹ năng về ngôn ngữ, ứng viên cũng phải thể hiện được tác phong chuyên nghiệp thông qua cách ăn mặc, tính đúng giờ, quan tâm đến công việc bằng cách chuẩn bị công việc kỹ càng trước khi đến công sở hay gặp gỡ đối tác.

5. Có khả năng làm chủ công việc

Dù là làm việc ở bộ phận kỹ thuật hay kinh doanh, điều quan trọng là phải làm chủ được công việc của mình. Yeo của Hudsons nói: “Có khả năng trình bày một cách chi tiết các kế hoạch kinh doanh và các chiến lược của mình vẫn chỉ mới là một điều kiện cần. Bạn cần phải có khả năng triển khai các kế hoạch, chiến lược đó để đem lại những lợi ích cụ thể cho doanh nghiệp”.

Kỹ năng “cứng” và kỹ năng “mềm” phải đi song hành với nhau cho bất cứ một công việc nào, ở bất cứ vị trí nào. Yeo nói thêm: “Chúng tôi đã từng chứng kiến nhiều ứng viên có kỹ năng kỹ thuật rất xuất sắc nhưng lại gặp khó khăn trong việc trình bày những ý tưởng của mình. Ngược lại, cũng có những ứng viên có thể trình bày tốt các ý tưởng, chiến lược của mình nhưng lại thiếu khả năng lập ra một kế hoạch hành động”.

6. Suy nghĩ như một doanh nhân

Không nên nghĩ rằng bạn không thể trở thành một doanh nhân nếu bạn đang phải làm thuê cho ai đó. Ghazi cho biết, hiện nay các nhà tuyển dụng thường tìm những ứng viên không chỉ có những kỹ năng cần thiết cho công việc mà còn phải biết “suy nghĩ như một doanh nhân”. “Hãy mạnh dạn trình bày những ý tưởng mới, đề xuất các phương pháp mới để xử lý công việc. Các công ty năng động thích những ứng viên như vậy”.

7. Tuân thủ chính sách của công ty

Có rất nhiều trường hợp khiến những người lao động trong lĩnh vực CNTT bị mất việc. “Việc không tuân thủ các quy định, nguyên tắc quan trọng của doanh nghiệp là một nguyên nhân. Làm “tay trong” cho các vụ mua bán cổ phiếu của công ty hay biển thủ các nguồn quỹ của công ty là một ví dụ. Làm việc không có hiệu quả trong một thời gian dài cũng là một trường hợp khác”, Yeo giải thích như vậy. Ông nói thêm: “Chúng tôi đã có trường hợp một ứng viên bị sa thải vì ngủ trong khi làm việc. Có một số công việc đòi hỏi nhân viên phải ngồi yên trước màn hình máy tính cả ngày như công việc phát triển CNTT”. Ngoài ra, theo Thevarakam, sử dụng Internet cho những mục đích cá nhân trong thời gian làm việc cũng là một điều khiến nhiều nhân viên trong các công ty CNTT gặp không ít rắc rối.

8. Áp dụng kiến thức thích hợp

Lạm dụng những kiến thức CNTT mà mình đã học được đôi khi là nguyên nhân khiến các nhân viên trong lĩnh vực này “tự kết liễu” sự nghiệp của mình. Chẳng hạn, theo lời giải thích của Thevarakam, các nhân viên CNTT sử dụng kiến thức chuyên môn của mình để thực hiện các hoạt động bị cấm như tấn công (hacking) vào các hệ thống để lấy những thông tin mang tính riêng tư và bảo mật.

9. Không ngừng học hỏi

Các nhân viên CNTT nên liên tục cập nhật các thông tin, các xu hướng phát triển mới trong ngành và không nên chỉ trông cậy vào các khóa học, các buổi hội thảo và các cuộc triển lãm mà công ty cử mình đi tham dự. Thevarakam nói: “Có thể tự tìm hiểu, thu thập và cập nhật thêm các kiến thức mới mà không phải quá tốn kém bằng cách lên Internet, tham gia vào các hiệp hội, viết blog…”.

10. Sẵn sàng đón nhận các nhiệm vụ, thử thách mới

Thevarakam khuyên: “Các nhân viên CNTT nên sẵn sàng đón nhận thêm các trách nhiệm, thử thách mới. Chẳng hạn, nếu bạn là một người mới tốt nghiệp và được tuyển dụng để làm một nhà tư vấn SAP nhưng sau đó công ty bạn cần một người được đào tạo về Peoplesoft và sẵn sàng đào tạo bạn thì bạn nên chấp nhận cơ hội đó để mở rộng kiến thức. Nếu chỉ chăm chăm theo đuổi một kỹ năng chuyên môn nào đó, bạn sẽ tự làm cho mình trở nên lạc hậu và thừa thãi đối với tổ chức của mình”.

10 thách thức cho người quản lý CNTT (sưu tầm)

Việc chọn được người quản lý giỏi thật sự là một vấn đề nóng bỏng đối với doanh nghiệp. Trong những ngành công nghệ cao như công nghệ thông tin (CNTT), vấn đề này càng khó khăn hơn vì những đặc thù của ngành nghề và môi trường lao động.
Qua hơn 10 năm làm việc trong một doanh nghiệp CNTT, tác giả rút ra một số kinh nghiệm và mong muốn chia sẻ, trao đổi với các đồng nghiệp để cùng nhau tìm lời giải khả thi nhất cho bài toán nguồn nhân lực.

Về mặt khái niệm, tạm bỏ qua sự phân định giữa nhà quản trị (manager) và nhà lãnh đạo (leader), sau đây xin gọi chung là người quản lý. Để làm tốt công việc, người quản lý trước hết phải nhìn được những thách thức và tìm phương thức giải quyết. Theo tôi, mười thách thức lớn nhất đối với năng lực của người quản lý có thể tóm lược như sau:

1. Học, không học và tự học

Học ở đây được hiểu là phải có bằng cấp. Không ai tự hào mình không được học và cũng rất khó để nói rằng tôi giỏi lĩnh vực này nhưng không có bằng cấp. Muốn làm quản lý phải được đào tạo (tức là phải đến lớp). Điều đó không sai nhưng sẽ không đúng ở chỗ nếu người ta kỳ vọng quá nhiều vào những việc đào tạo như vậy. Điều cốt yếu nhất phải là sự tự học. Tự học không theo nghĩa là tự đọc hay tự nghiên cứu, mà kể cả khi đến trường lớp, nếu bản thân không chủ động tìm hiểu, tư duy thì chuyện được đào tạo cũng khó mà đạt được hiệu quả. Người quản lý không tự học tất sẽ thất bại trong một xã hội, trong một nền công nghiệp và môi trường kinh doanh như hiện nay. Công nghệ đem đến nhiều thay đổi tốt đẹp hơn trong cuộc sống và công việc nhưng nó tạo áp lực ghê gớm về sự tự học lên con người, nhất là những người quản lý. Ngày xưa, giữa người tự học tốt và chưa tốt không có khoảng cách lớn, nhưng ngày nay khoảng cách đó sẽ là vô tận.

2. Tìm một “binh pháp” riêng


Cách lý tưởng nhất là nên xây dựng một “binh pháp” riêng cho doanh nghiệp mình. Nói nôm na là cần một “cẩm nang quản lý”, bao gồm những nguyên tắc, phương pháp luận quản lý quan trọng và đặc trưng của doanh nghiệp. Tất nhiên, không có nghĩa là ai đọc “binh pháp” xong cũng trở thành “chiến tướng”, nhưng điều quan trọng là cần đúc kết kinh nghiệm của các thế hệ quản lý để định hướng và tạo nên bản sắc quản trị của doanh nghiệp. Đặc biệt, những doanh nghiệp mà sự tồn tại và phát triển đã tính bằng chục năm thì phong cách và bản sắc quản trị của doanh nghiệp đã có hình hài. Chuyện gửi nhân sự đi đào tạo bên ngoài chỉ là một phần, việc “truyền nghề” mới là phần quan trọng để sự kế thừa trong doanh nghiệp đúng hướng và mạnh mẽ hơn.

3. Năng lực giải quyết những mặt đối lập


Công việc của người quản lý chắc chắn đối đầu với rất nhiều cặp phạm trù đối lập. Nhận diện được chúng và giải quyết hài hòa các mặt thật là khó. Ví dụ, làm sao giải quyết các đối lập giữa cái “vĩ mô” và “vi mô” (chi tiết), “tình cảm” và “công việc”, “hiệu quả” và “mạo hiểm”, “chặt chẽ” và “linh động”, “trách nhiệm” và “quyền lực”, “danh” và “lợi”, “thương hiệu” và “thực chất”, “hợp tác” và “cạnh tranh”, “thật” và “giả”… Không thể tách rời các cặp này ra khỏi công việc thường ngày, do đó chỉ có thể dùng phương cách “ưu tiên” tại một thời điểm cho một mặt, tập trung giải quyết nó thì ổn hơn. Tất nhiên, theo kiểu lý luận “con gà và cái trứng” thì việc xác định “cái nào là ưu tiên” tại một thời điểm cũng là vấn đề cần phải giải quyết.

4. Thể hiện sự bao dung và nghiêm khắc

Xét trong thực tế, đúng là người quản lý cần phải nghiêm khắc, phải độc đoán mới làm nên…chuyện lớn. Nhưng trong môi trường doanh nghiệp Việt Nam, đa số đi lên từ con số không, nhất là doanh nghiệp trong lĩnh vực CNTT, nếu nghiêm khắc và độc tài như Tần Thủy Hoàng chắc cũng khó có thể thành công. Tôi có hai kinh nghiệm nhỏ về chuyện này. Thứ nhất, đa số doanh nghiệp đều hình thành và phát triển từ những điều kiện khiêm tốn nên tình cảm thường bộc lộ nhiều ở giai đoạn đầu, nhưng khi gắn bó với nhau rồi buộc phải nghiêm khắc nhiều hơn mới có thể duy trì được đà phát triển. Thứ hai, người quản lý phải biết tạo cho nhân viên tinh thần chịu trách nhiệm về công việc được giao nhưng cũng làm sao để họ nhận thức được rằng khi khó khăn và đã làm hết sức mình thì họ vẫn có một “chỗ dựa”. Nếu mất cân đối một phía, bỏ mặc nhân viên hay làm cho họ ỷ lại, tất cả đều hỏng.

5. Nắm bắt công nghệ

Khi làm quản lý, người ta thường bắt đầu có lý do (và thấy là hợp lý) để cho rằng nếu mình không biết nhiều về kỹ thuật, công nghệ thì cũng là chuyện…bình thường vì đó là việc của chuyên gia. Nhưng trên thực tế chưa hẳn là hợp lý. Trong lĩnh vực kinh doanh CNTT và công nghệ cao nói chung, người quản lý nhất thiết phải hiểu biết về công nghệ. Hiểu và nắm bắt công nghệ không phải để làm công tác chuyên môn như tư vấn hay triển khai mà để… định hướng. Ít nhất họ phải có kiến thức và hiểu biết rộng về công nghệ, đặc biệt là xu hướng công nghệ. Trong tình hình các doanh nghiệp CNTT của Việt Nam chưa có sản phẩm công nghệ riêng thì việc quyết định chọn lựa đối tác, hướng đến dịch vụ, xây dựng các phần mềm, tìm kiếm thị trường phù hợp… không thể không cần những hiểu biết như đã nói. Trong thời đại công nghệ thay đổi nhanh chóng, ai nắm bắt công nghệ tốt hơn sẽ dễ dàng chiến thắng. Hơn nữa, nắm bắt công nghệ không chỉ nhằm định hướng cho doanh nghiệp mà còn tạo cho khách hàng những lợi ích thật sự, đó cũng là vũ khí để cạnh tranh.

6. Nghệ thuật quan hệ

Việc xử lý và giải quyết các mối quan hệ sẽ là công việc thường ngày và đóng vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại của người quản lý. Nghệ thuật quan hệ không phải để “được lòng mọi người” mà là tạo niềm tin ổn định ở người khác. Trong thực tế, có những mối quan hệ rất quan trọng mà người quản lý phải đối mặt và xử lý: quan hệ với cấp trên, cấp dưới, khách hàng, đối tác, doanh nghiệp bạn, quan hệ quốc tế..., chưa kể những mối quan hệ “đời thường” khác. Một thành công hay thất bại đôi khi chỉ từ một yếu tố tốt hay không tốt trong quan hệ. Nói như thế không có nghĩa là chỉ quan hệ tốt mà không cần đến năng lực nhưng trong văn hóa Việt Nam chắc là còn lâu lắm việc ứng xử trong kinh doanh và quản lý chỉ thuần túy dựa trên công việc. Nói là nghệ thuật vì nó khó thật, nhiều lúc không biết làm thế nào cho phải. Ví dụ như ứng xử thế nào để vừa khẳng định được mình (vì mình là người quản lý) vừa không làm người khác phật lòng; hay trong quan hệ với khách hàng làm sao để thành công đến từ việc khách hàng “thích” mình (có yếu tố cá nhân) nhưng tin rằng phía sau mình là cả một tổ chức tốt (có yếu tố tập thể).

7. Ra quyết định

“Bệnh” đáng sợ nhất trong một doanh nghiệp là “bệnh” sợ trách nhiệm. Người ta không dám quyết định những việc ngoài nguyên tắc và chưa có tiền lệ. Đối với người quản lý, dám ra quyết định (đúng) là cả một vấn đề lớn. Vì thế, hai điều khó nhất khi ra quyết định là: thứ nhất, làm sao để cấp dưới biết cách tự quyết định nhằm tránh dồn việc cho mình, tránh làm nảy sinh bệnh sợ trách nhiệm và mang tiếng “độc đoán” nhưng vẫn kiểm soát được công việc; thứ hai, làm sao để mình phải biết tự đưa ra quyết định (và chịu trách nhiệm) khi cấp dưới… bế tắc. Một nguyên tắc cơ bản trong quản lý là “dân chủ nhưng tập trung” cũng là cách nói ngắn gọn về năng lực ra quyết định của người quản lý.

8. Lưng tựa vào núi

Cách đào tạo thuyền trưởng thật đáng suy ngẫm. Không biết họ được truyền đạt những gì mà nếu tàu có sự cố, thuyền trưởng không bao giờ rời tàu hoặc là người rời tàu sau cùng. Nếu xem doanh nghiệp là một con tàu, thuyền trưởng là người quản lý thì khi con tàu sắp đắm người ta… thay thuyền trưởng hoặc thuyền trưởng sẽ… tự nhảy khỏi tàu trước khi bị đắm. Như vậy làm quản lý doanh nghiệp “sướng” hơn làm thuyền trưởng chăng ? Chúng tôi thường trao đổi với các nhà quản lý trong công ty rằng: các bạn là “tướng” và không bao giờ được phép lùi bước trước mọi khó khăn. Thà cố hết sức nhảy qua vực nếu lỡ rớt xuống vực cũng được “an ủi” hơn là… quay đầu tháo chạy. Nói một cách hình tượng, người quản lý phải luôn nghĩ rằng mình đang đi trên con đường mà sau lưng (chứ không phải trước mặt như mọi người thường ví von) là vách núi, nghĩa là không có đường lui. Vì trọng trách của người quản lý là không chỉ làm việc cho mình mà việc mình làm còn ảnh hưởng đến nhiều người khác. Đó cũng là vinh dự và hạnh phúc.

9. Hùng biện và phong cách


Chắc không (hoặc ít) có người lãnh đạo nào mà không hùng biện. Không thể lãnh đạo thành công nếu không truyền đạt được suy nghĩ và mong muốn của mình cho cấp dưới. Không thể lãnh đạo thành công nếu không thu phục được nhân tâm. Không thể tạo được niềm tin nếu không biết cách nói về mình. Năng lực hùng biện là sức mạnh của lời nói. Người quản lý lại càng phải là người diễn đạt rõ ràng và dứt khoát về yêu cầu, ý muốn, nhận xét của mình với nhân viên; mạch lạc và khôn khéo với đối tác ; thuyết phục và thu hút khách hàng. Ông Reuben Mark, Chủ tịch và Tổng giám đốc điều hành tập đoàn Colgate-Palmolive, đã từng nói: “Công việc của một người lãnh đạo là làm rõ và làm cho đơn giản để mọi người có thể hiểu được điều gì thật sự quan trọng. Diễn đạt ý tưởng của bạn bằng những từ ngữ mà mọi người có thể hiểu rõ. Không ai có thể đi theo một bản đồ chỉ đường mà họ không thể hiểu”. Tất nhiên, hùng biện, ngoài từ ngữ còn phải đi kèm với phong cách phù hợp, cách thức diễn đạt tương xứng với nội dung. Phong cách theo nghĩa rộng hơn không chỉ là cách thức diễn đạt mà còn thể hiện nói chung trong tư thế, trong cách ứng xử hàng ngày. Phong cách cần phải được điều chỉnh và “nâng cấp” phù hợp với công việc, vị trí và đối tượng mà mình làm việc.

10. Tầm nhìn

Tầm nhìn hiểu theo cách đơn giản nhất là chỉ ra cơ hội tiếp theo của doanh nghiệp là gì. Nhưng đây là thách thức quan trọng và khó khăn nhất. Tầm nhìn của người quản lý không chỉ là chỉ ra cơ hội đó là gì mà điều cực kỳ quan trọng và quyết định sống còn là cách nắm bắt và thực hiện cơ hội đó như thế nào. Nếu không, cơ hội cũng sẽ vẫn chỉ là lý thuyết hoặc khẩu hiệu.

Thứ Tư, 19 tháng 3, 2008

Khắc phục "hậu quả" sau khi quét virus (sưu tầm và tổng hợp)

Các hướng dẫn sau đây sẽ giúp bạn loại bỏ tình trạng không truy cập được registry, mất Folder Options, không cho hiển thị file ẩn và file hệ thống, đồng thời làm ẩn một số tập tin dữ liệu khác... kể cả khi đã dùng phần mềm diệt virus.
Trước hết, bạn phải đảm bảo máy tính đã sạch virus, nếu không, mọi hành động sẽ là vô nghĩa. Virus sẽ nhanh chóng nhận biết các thay đổi của bạn và tiếp tục điều chỉnh lại hệ thống theo ý của chúng, còn nhanh hơn bạn rất nhiều lần.

1. Bị khoá Registry
Triệu chứng: Khi bấm Start > Run > gõ regedit chỉ nhận được một thông báo "Registry editor has been disabled by your administrator".
Khắc phục: Mở Notepad ra, copy và dán đoạn mã này vào và save nó lại thành file UnHookExec.inf

[Version]
Signature="$Chicago$"
Provider=Symantec

[DefaultInstall]
AddReg=UnhookRegKey

[UnhookRegKey]
HKLM, Software\CLASSES\batfile\shell\open\command,,,"""%1"" %*"
HKLM, Software\CLASSES\comfile\shell\open\command,,,"""%1"" %*"
HKLM, Software\CLASSES\exefile\shell\open\command,,,"""%1"" %*"
HKLM, Software\CLASSES\piffile\shell\open\command,,,"""%1"" %*"
HKLM, Software\CLASSES\regfile\shell\open\command,,,"regedit.exe ""%1"""
HKLM, Software\CLASSES\scrfile\shell\open\command,,,"""%1"" %*"
HKCU, Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies\
System,DisableRegistryTools,0x00000020,0

Hoặc tải file này http://securityresponse.symantec.com/avcenter/UnHookExec.inf về sử dụng luôn.
Sau khi lưu, nhấn chuột phải vào nó rồi chọn "Install". Nếu cần restart lại máy.

Hoặc bạn vào Group Polices (mở hộp thoại Run -->gõ gpedit.msc)
Trong phần User Configuration, bạn chọn phần Administrative Templates, chọn tiếp phần System.
Rồi, bạn tìm phần bên phải dòng Prevent access to registry editing tool, nhấp đôi lên, chọn Disable
Cách này có thể hiệu quả với 1 số trường hợp, nhưng không hoàn toàn 100%
2. Mất Folder Option
Triệu chứng: Mở Explorer, tại Menu Tools, thấy biến mất menu Folder Option.
Khắc phục: Có 2 cách sau đây:

Cách 1
Bấm Start > Run gõ vào Regedit:
Nếu Registry bị khoá thì thực hiện theo phần 1.
Nếu mục Run bị khoá thì thực hiện theo phần 6 ở bên dưới.
Tìm đến khoá sau:

User Key: HKEY_CURRENT_USER\ Software\ Microsoft\ Windows\ CurrentVersion\ Policies\ Explorer
System Key: HKEY_LOCAL_MACHINE\ Software\ Microsoft\ Windows\ CurrentVersion\ Policies\ Explorer

Bên cửa sổ bên phải bạn sẽ thấy một giá trị REG-DWORD có tên là "NoFolderOptions"
Bạn click double để chỉnh sửa giá trị của nó như sau:
Value: 0 - hiện menu , 1 - ẩn menu.

Cách 2
Bây giờ vào Start > Run.
Nếu mục Run bị khoá thì thực hiện theo phần 6 của bài viết này.
Gõ vào GPEdit.msc rồi chọn OK.
Sau đó vào tiếp User Configuration/Administrative Template/Windows Component/Windows Explorer
Nhấn đúp chuột vào mục REMOVE THE FOLDER OPTIONS... và chọn Disable. Xong đóng lại, ra Run gõ GPUPDATE /FORCE rồi bấm OK.

3. Không hiển thị được file ẩn
Triệu chứng: Bạn thấy biến mất dữ liệu, không nhìn thấy nó mặc dù biết chắc chắn là nó vẫn ở đó. Mở Explorer, bấm Menu Tools, chọn Folder Options (nếu không nhìn thấy Folder Options thì thực hiện mục 2 của bài viết này). Vào tab View/Advanced Settings, mục "Hidden files and folders". Cho dù bạn có bấm xuống "Show Hidden Files and Folders" rồi bấm Apply hay OK thì file ẩn vẫn cứ ẩn. Mở lại Setting đó thì nó lại như cũ.
Khắc phục: Mở Notepad ra, copy và dán đoạn mã này vào và save nó lại thành file ShowHiddenFile.reg

REGEDIT4

[HKEY_LOCAL_MACHINE\Software\Microsoft\Windows\
CurrentVersion\explorer\Advanced\Folder\Hidden\SHOWALL]
"RegPath"="Software\\Microsoft\\Windows\\CurrentVersion\\
Explorer\\Advanced"
"Text"="@shell32.dll,-30500"
"Type"="radio"
"CheckedValue"=dword:00000001
"ValueName"="Hidden"
"DefaultValue"=dword:00000000
"HKeyRoot"=dword:80000001
"HelpID"="update.hlp#51105"

Sau khi save, bạn nhấn đúp chuột vào nó để import vào registry. Nếu cần restart lại máy. Rồi vào Folder Options để hiệu chỉnh Show Hidden Files and Folder.

4. Bị ẩn (hidden) file và folder dữ liệu
Triệu chứng: Thấy biến mất dữ liệu. Mở Folder Options, chọn show all files lên thì nhìn thấy dữ liệu tự động bị ẩn (bị đặt thuộc tính Hidden hoặc System). Bỏ check Hidden đi thì không bỏ được. Thuộc tính System thì Windows đã bỏ không cho sử dụng, mặc dù thuộc tính này của file vẫn tồn tại.
Khắc phục: Mở cửa sổ Explorer ra, chuyển đến chỗ có chứa các file ẩn, bấm chuột phải vào đâu đó trên vùng trống của cửa sổ Explorer. Tại menu bật ra, chọn New/Shortcut.
Một cửa sổ Creat Shortcut sẽ xuất hiện. Tại ô Type the location of the item, bạn copy và dán dòng sau đây vào đó:

attrib.exe -s -r -h

Bấm Next. Tại ô Type a name for this shortcut, bạn đặt tên cho Shortcut, ví dụ như showfile chẳng hạn. Bạn sẽ có một file shortcut có tên là Showfile.lnk.
Sau đó, bất cứ file hay folder nào bị đặt thuộc tính "không bình thường" (bị Read Only, bị Hidden, bị System) bạn cứ kéo file hoặc folder đó thả vào biểu tượng của Shortcut Showfile.

5. Bị khoá Task Manager
Triệu chứng: Bấm Ctrl-Alt-Del, chỉ thấy nhận được thông báo "Task Manager has been disabled by your administrator".
Khắc phục: Chọn một trong hai cách sau:

Cách 1. Thay đổi Registry
Bấm Start > Run gõ vào Regedit:
Nếu registry bị khoá thì thực hiện theo phần 1 của bài viết này.
Nếu mục Run bị khoá thì thực hiện theo phần 6 của bài viết này.
Tìm đến khoá sau:

HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\
CurrentVersion\Policies \System

Tại cửa sổ bên phải, bạn sẽ thấy một giá trị REG-DWORD có tên "DisableTaskMgr"
Bạn click double để chỉnh sửa giá trị của nó như sau:
Value: 1= Cấm Task manager.
Value: 0= Mở khoá TaskManager.
Hoặc đơn giản là xoá đi, bạn sẽ mở được Task Manager.

Cách 2. Dùng Administrative Tool
Bây giờ hãy vào START --> RUN
Nếu mục Run bị khoá thì thực hiện theo mục 6 của bài viết này.
Gõ vào GPEdit.msc rồi chọn OK
Ở cửa sổ Group Policy settings, chọn User Configuration\Administrative Templates\System
Chọn Options Ctrl+Alt+Delete
Chọn Remove Task Manager
Nhấn đúp chuột vào vào mục Remove Task Manager và chọn Disable.
Xong đóng lại, ra Run gõ GPUPDATE /FORCE rồi bấm OK.

6. Mất mục Run
Triệu chứng: Đáng nhẽ ở menu Start, phải có mục Run để chúng ta chạy các phần mềm không nằm trong Start Menu. Nhưng giờ nó đã biến mất.
Khắc phục: Bấm Start/All Programs/Accessories. Mở Command Prompt.
Cửa sổ Command Prompt sẽ xuất hiện. Giờ thì gõ thẳng "Regedit.exe" vào dòng lệnh của Command Prompt. Bạn sẽ mở được Registry Editor.
Bạn tìm đến khoá sau:

HKEY_CURRENT_USER\ Software\ Microsoft\ Windows\ CurrentVersion\ Explorer\ Advanced

Ở cửa sổ bên phải, Bạn sẽ thấy một giá trị REG-DWORD với tên "StartMenuRun".
Sửa giá trị thành 0 nếu muốn tắt, 1 nếu muốn khoá.
Hoặc đơn giản là xoá nó đi. Khởi động lại máy.

6. Window tự đông log off sau khi quét virus:
Windows tự động log off là cú “hồi mã thương” mà một số spyware sử dụng khi bị phát hiện. Chẳng hạn các phần mềm chống virus như Norton AntiVirus, Lavasoft Ad-Aware... phát hiện và xóa tập tin spyware wsaupdater.exe nhưng không sửa thông tin trong Registry. Kết quả Windows không thể hoàn tất quá trình khởi động do thông tin Registry bị sai lệch dù bạn thử đăng nhập bằng một vài tùy chọn khác như chế độ Safe Mode và Last Known Good Configuration. Có vài cách để khắc phục lỗi này tùy vào những công cụ sẵn có, chẳng hạn như sử dụng Recovery Console trong CD cài đặt Windows hoặc trực tiếp chỉnh sửa Registry của Windows bằng tiện ích trong “CD cứu hộ” như Hiren’s BootCD, WinBuilder, Bart’s PE Builder, miniPE.

Sử dụng Recovery Console

Bước 1. Thay thế, đổi tên tập tin userinit.exe bằng Recovery Console

Khởi động máy với đĩa CD cài đặt Windows. Nhấn phím bất kỳ khi xuất hiện thông báo Press any key to boot from CD.
Trong màn hình Welcome to setup, nhấn phím R (Repair) để khởi động Recovery Console (RC).
Nếu hệ thống cài đặt nhiều hệ điều hành (HĐH) khác nhau, chọn HĐH bị lỗi cần khắc phục (lưu ý: nếu nhấn Enter khi chưa chọn HĐH, chương trình sẽ tự khởi động lại máy).
Nhập mật khẩu của tài khoản thuộc nhóm quản trị (Administrators).
Tại dấu nhắc của RC, gõ các dòng lệnh sau (nhấn Enter sau mỗi dòng lệnh).

cd system32

copy userinit.exe wsaupdater.exe

exit

Bước 2. Khởi động lại máy tính, bạn đã có thể đăng nhập Windows ở chế độ bình thường
Chọn Start > Run, gõ dòng lệnh regedit và nhấn OK để mở cửa sổ Registry Editor.
Trong khung trái Registry Editor, tìm đến nhánh HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows NT\CurrentVersion\Winlogon
Ở khung phải, tìm đến mục userinit, nhấn phải chuột trên mục này chọn Modify.
Thay thế tập tin wsaupdater.exe bằng userinit.exe, (bao gồm cả dấu “,”) trong mục Value data (thông tin đúng trong trường hợp này là C:\WINDOWS\system32\userinit.exe) (hình 1)
Chọn OK và đóng Registry Editor.
Bước 3. Xóa tập tin wsaupdater.exe
Khởi động lại máy tính, đăng nhập Windows bằng tài khoản thuộc nhóm quản trị (Administrators).
Chọn Start > Run, gõ dòng lệnh %Windir%\system32, nhấn OK (hoặc mở Windows Explorer, tìm đến thư mục Windows\System32)
Tìm tập tin wsaupdater.exe trong thư mục Windows\System32, chọn Delete, nhấn OK xác nhận xóa.
Ghi chú. Việc chỉnh sửa các thông số Registry đòi hỏi phải được thực hiện hết sức cẩn trọng vì chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể khiến Windows hoạt động bất thường, thậm chí không thể đăng nhập được. Do vậy, trước khi tiến hành bất kỳ một chỉnh sửa nào, hãy sao lưu lại cấu hình Registry hiện tại

Sử dụng Mini-Pe
Nếu có sẵn một trong những đĩa “CD cứu hộ” như Hiren’s BootCD, WinBuilder, Bart’s PE Builder, miniPE... Bạn có thể trực tiếp chỉnh sửa Registry của Windows bằng những tiện ích sẵn có để đơn giản hóa việc khắc phục. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ hướng dẫn sử dụng tiện ích Avast! Registry Editor (ARE) trong CD miniPE. Có thể tải về phiên bản mới nhất của miniPE tại http://minipe.org.
Khởi động máy tính bằng CD miniPE (trong trường hợp cần thiết, bạn cần thiết lập để máy tính khởi động từ ổ CD-ROM hoặc nhấn phím tắt để hiển thị tùy chọn khởi động từ các thiết bị phần cứng khác nhau).
Sau khi khởi động, giao diện miniPE khá giống với Windows, dễ dàng cho người dùng thao tác.
Chọn Start > Programs > Registry Tools > Avast! Registry Editor để khởi động tiện ích. ARE sẽ liệt kê các HĐH và các tập tin Registry tìm thấy. Nếu chỉ có 1 HĐH, bạn không phải đắn đo khi chọn Load selected OS registry.
Trong cửa sổ Registry Editor quen thuộc, thực hiện các thao tác như bước 2 bên trên (hình 4).
Thoát khỏi ARE. Khởi chạy Windows Explorer trong Start > Programs > File Management và thực hiện việc xóa tập tin wsaupdater.exe như bước 3.

Vệ sinh máy tính (sưu tầm)

Nếu thấy chuột không chạy "bon bon" trên màn hình, bàn phím bị kẹt gõ chữ nọ thành chữ kia, PC "gầm rú" đến nhức óc..., bạn có thể nghĩ đến việc vệ sinh máy tính trước khi hốt hoảng mang đi sửa chữa.
Lau chùi máy tính và các thiết bị ngoại vi không những giúp chúng hoạt động trong điều kiện tốt nhất mà còn tránh được các vi khuẩn gây hại cho người sử dụng.

Các đồ dùng cần thiết
- Vải là đồ dùng tốt nhất để loại trừ bụi bẩn khỏi máy tính. Dù khăn giấy có thể dùng để lau mọi phần cứng, bạn nên tận dụng vải lau bất cứ khi nào có thể.
- Giẻ bông thấm cồn vệ sinh hoặc nước là dụng cụ tốt để lau bàn phím, chuột…
- Miếng mút/bông rất hữu dụng vì nó không chứa xơ gây trầy xước bề mặt thiết bị.
- Nước hoặc cồn loãng thấm vào giẻ là tốt nhất. Các dung môi khác có thể gây hại cho lớp nhựa bọc.
- Máy hụt bụi mini sẽ hút các bụi bặm, chất bẩn, tàn thuốc lá… ra khỏi máy tính.
- Bình xịt khí để thổi bụi ở những linh kiện khó lau chùi.

Những lưu ý khi lau máy
- Không bao giờ xịt hay làm đổ chất lỏng vào bất cứ bộ phận máy tính nào. Nếu cần dùng đến chất lỏng, bạn hãy thấm lên một miếng khăn rồi lau.
- Có thể dùng máy hút bụi để loại bỏ bụi bặm, tóc, chất bẩn… ở mặt ngoài máy tính, trên bàn phím. Tuy nhiên, không nên dùng thiết bị này cho phần bên trong máy vì nó có thể sản sinh ra tĩnh điện gây hại cho các linh kiện. Nếu cần thiết, hãy sắm một chiếc máy hút bụi mini (loại dùng pin, công suất nhỏ) thiết kế riêng cho việc làm sạch.
- Khi lau bộ phận nào hay cả PC, nên tắt nguồn điện hoặc tháo phụ kiện trước.
- Không bao giờ để các bộ phận bên trong hoặc bất cứ mạch điện nào bị ẩm ướt.
- Cẩn thận khi dùng bất kỳ dung môi nào để lau vì một số bộ phận có phản ứng với hóa chất trong đó. Nên dùng nước và dung môi có độ hòa tan cao.
- Thận trọng, không để lỡ tay đánh rơi bất cứ vật gì vào các linh kiện.
- Khi lau quạt, nhất là loại quạt nhỏ trong laptop, bạn nên giữ cánh quạt cố định. Không dùng máy hút bụi vì nó có thể gây hỏng thiết bị này.
- Hạn chế hút thuốc ở khu vực quanh máy tính.

Tần suất lau máy tính
- Không hút thuốc, không nuôi động vật: 5 tháng/lần.
- Không hút thuốc, có nuôi động vật: 4 tháng/lần.
- Hút thuốc, không nuôi động vật: 3 tháng/lần.
- Hút thuốc, có nuôi động vật: 2 tháng/lần.
- Tại công ty có môi trường trong sạch: 5 tháng/lần.
- Tại công ty có môi trường trong sạch nhưng nhiều người dùng một máy tính: 3 tháng/lần.
- Văn phòng trong nhà máy hoặc cho phép hút thuốc: 2 tháng/lần.
- Lớp học vi tính có học viên là người lớn: 3 tháng/lần.
- Lớp học vi tính có học viên là trẻ nhỏ: Hằng tháng, có khi hằng tuần, hằng ngày.
Các gợi ý trên mang tính khái quát. Tùy vào môi trường quanh khu vực máy tính, bạn có thể lau bất cứ khi nào thấy bụi bẩn.

Chuột bi
Nhiều người bày tỏ sự "căm phẫn" của mình khi không điều khiển được chuột là "đập" ầm ầm trên mặt bàn. Tuy nhiên, ngoài sự cố máy treo, đường truyền Internet chậm, bạn nên giảm stress bằng cách gỡ chuột ra xem có phải do quá bụi hay không.
Trên "bụng" chuột, tì móng tay vào miếng nhựa tròn đậy bi, xoay ngược chiều kim đồng hồ để tháo bi ra. Nhìn vào hốc bên trong, bạn sẽ thấy 3 thanh kim loại nằm ngang. Nếu thực sự bẩn, 3 thanh này sẽ bám đầy bụi thành "lớp" dày mà một số người tưởng là ... dầu bôi trơn chuột, không dám lau đi. Bạn nhẹ nhàng dùng tăm gảy hết chất bẩn ra rồi thấm bông hoặc giẻ mềm vào nước hoặc cồn 90o, vắt khô để lau. Sau khi lau sạch cả bi và các chỗ bẩn khác, bạn lắp vào và sẽ thấy chuột chạy nhanh bất ngờ. Cũng nên lau cả miếng đệm lăn chuột.

Bàn phím
Đã có nghiên cứu thấy rằng bàn phím còn bẩn hơn cả... toilet. Thực tế, kẽ phím là nơi "cất giấu" rất nhiều vi trùng. Nếu bị dây đồ ngọt, thức ăn, bàn phím còn trở thành "ổ" cho côn trùng, kiến. Khi gặp các trường hợp đổ nước/sữa vào đây, bạn sẽ thấy phím gõ bị "dính" (gõ một phím thành nhiều ký tự). Lúc này bạn có thể mạnh dạn mở cả keyboard ra để làm sạch.
Lật ngửa bàn phím, dùng tuốc-nơ-vít 4 cạnh loại nhỏ để mở khoảng 17 đinh ốc. Mặt trong có 2 lớp nhựa điện tử phủ lên bộ phím bấm, mỗi phím có một lớp đệm nhựa dẻo. Bạn có thể nhấc các miếng nhựa tròn này ra nhưng lưu ý đừng để "thất lạc". Dùng máy sấy chế độ mát hoặc bông để làm khô phần bị ẩm trong bàn phím. Các chất bẩn khác có thể lau bằng giẻ mềm và khô. Sau đó, lắp lại bàn phím. Ở mặt ngoài, người dùng vệ sinh bằng giẻ mềm thấm cồn hoặc nước (nhớ vắt khô). Dùng máy hút bụi hoặc bình xịt khí để lấy chất bẩn từ các khe.

Vỏ ngoài case và màn hình
Dùng khăn ẩm để lau mặt ngoài case. Tại các lỗ thông hơi, dùng máy hút bụi để "tóm" bụi bặm, mạng nhện... bám vào đây. Riêng màn hình LCD, bạn nên dùng giẻ mềm và khô để lau. Không nên dùng khăn giấy hay bất kỳ chất lỏng nào xịt vào bề mặt này.

Ổ quang và đĩa quang
Trong khi không dùng ổ, bạn vẫn nên đặt đĩa ở bên trong để đỡ bụi cho mắt đọc (nhưng khi di chuyển case, bạn nên bỏ đĩa ra nhằm tránh bị giắt đĩa, gây hư hỏng). Trường hợp ổ quang gặp bụi bẩn, người dùng có thể tháo ra và lau nhẹ bằng giẻ mềm hoặc miếng lau chuyên dụng.

Thùng máy tính dù kín vẫn bắt bụi và bị côn trùng xâm nhập.

Còn đĩa quang bẩn sẽ khiến ổ đọc rất khó khăn, thậm chí làm hỏng mắt. Dùng một miếng vải mịn và sạch hoặc miếng lau chuyên dụng để loại bỏ bụi bẩn. Chú ý: Bắt đầu lau từ tâm đĩa, kéo thẳng ra phía ngoài chứ không nên lau theo vòng tròn (làm như vậy sẽ khiến đĩa bị xước nhiều hơn).
Bạn có thể dùng khăn thấm nước hoặc cồn nồng độ cao để lau đĩa quang.

Mainboard và các linh kiện trong thùng máy
Khi làm sạch bụi trên bo mạch chủ, bạn không nên dùng khăn lau trực tiếp trên bề mặt thiết bị này, không được dùng máy hút bụi vì sẽ gây ra tĩnh điện. Tốt nhất người dùng nên sắm một bình khí nén, mở các nắp case và xịt bụi ở bên trong bay ra ngoài (nên cầm bình trong tư thế thẳng đứng). Chú ý: có thể dùng máy hút bụi loại nhỏ (cầm tay, chạy pin). Khi thao tác, nên để cách bo mạch chủ khoảng 10 cm.
Tại đây, phần quạt chip là nơi bám bụi, tóc, chất bẩn nhiều nhất. Bạn loại bỏ sạch chúng để tránh cho quạt bị kẹt khi vận hành. Một số người thấy quạt kêu thường lau sạch và tra dầu máy khâu. Tuy nhiên, người ít kinh nghiệm không nên áp dụng cách này. Bạn chỉ được tra một lượng dầu hạn chế và để thật khô mới vận hành máy - nếu không dầu sẽ văng tung tóe ra bề mặt bo mạch chủ.
Tóm lại: Ngoài việc lau máy tính định kỳ, người dùng nên hạn chế hút thuốc, ăn uống xung quanh khu vực đặt PC.

Thứ Hai, 3 tháng 3, 2008

1 bản GHOST độc đáo (sưu tầm)

Sao lưu ổ đĩa chứa hệ điều hành bằng Ghost vẫn là phương cách cơ bản và hữu hiệu nhất để bảo đảm an toàn cho máy tính. Vấn đề là nếu file Ghost tạo ra quá lớn thì phải cắt ra thành nhiều phần, lưu trên nhiều đĩa CD rất phiền phức và khó bảo quản. Vậy có cách nào để ổ đĩa chứa hệ điều hành cùng những ứng dụng quan trọng có dung lượng hơn 2 GB có thể ghost vào trọn 1 đĩa CD chỉ 670 MB? Cách giải quyết vấn đề này sẽ được nêu trong bài viết này.

Ghost là phương pháp sao lưu ổ cứng rất tiện dụng, nhanh chóng nên được nhiều người sử dụng để tránh việc phải cài mới Windows. Chỉ có điều khá phiền phức là file Ghost đó quá lớn để lưu trữ: khoảng vài GB đối với Windows XP đã cài đặt các gói phần mềm và các font cần thiết.

Thật ra, với Windows XP Pro SP2c đã cài các phần mềm ứng dụng chiếm hết 2,3 GB ổ đĩa C:\ trong máy ta cũng có thể tạo được 1 file Ghost chỉ 670 MB, đủ chứa trên 1 đĩa CD lại còn có thể phục hồi được cho nhiều máy khác nhau. Đó chính là bản Ghost tôi đang sử dụng, trong đó có MS Office 2003, WMP 10, IDM 5.11, Flash MX 8 Pro, PDF Foxit Reader 2.0, Flash Player & ActiveX 9.0.47, Resource Hacker, Unikey 4 RC1, WinRAR, Cabinets Manager 2002, 7-Zips Archiver, Windows Partitions Magic 8, PDF Editor, Yahoo Messenger 8, WMP Skin Pack, DFX 8, Windows Game Pack 2, Windows Movie Maker, bộ font cho Designer, và một số phần mềm khác!

1. Trước tiên, hãy chuẩn bị một bản Windows sạch, hãy cài mọi thiết đặt cho phù hợp với ý thích của bạn (Themes, Sounds, Drivers, Fonts, Softwares, Activation Key...), canh sao cho đến khoảng 2 GB là vừa.

Lưu ý: Nếu bạn có ý định tạo bản Ghost để sao lưu cho nhiều máy khác nhau thì đừng vội cài các driver và đừng cài đặt phần mềm nào vào phân vùng khác ngoài phân vùng cài Windows (C).

Tắt chế độ System Restore bằng cách nhấp phải vào My Computer, chọn thẻ System Restore, chọn Turn Off System Restore on all drives.

2. Tiếp đến là dọn “rác” cho máy. Dọn sạch Internet History, Cookies, Temporary Internet File, Empty Recycle Bin. Sau đó hãy bật chế độ hiển thị file ẩn bằng cách vào menu Tools > Folder Options, chọn thẻ View trong hộp thoại hiện ra. Chọn mục Show Hidden Files and Folders, bỏ chọn mục Hide Protected Operating System Files (Recommended), bấm Yes > OK. Vào thư mục Windows\System32\ DllCache\ và xóa sạch các file trong thư mục này đi. Các file trong thư mục này là những file lưu trữ (cache) của những file hệ thống và chúng sẽ tự động phục hồi nếu các file hệ thống bị mất hoặc bị hỏng. Bạn cứ vô tư xóa chúng mà không cần lo gì cả, vì các file hệ thống hư có thể lấy đĩa Windows chép lại hoặc Ghost lại là xong. Lưu ý là việc này phải làm trong Windows.

Khởi động lại máy tính xem thử có hộp thoại thông báo của trình Windows Files Protection hay không. Nếu có, hãy nhanh tay bấm vào nút Cancel tắt nó đi. Tắt chế luôn độ hiển thị file ẩn.

3. Nếu bạn muốn tạo bản Ghost dùng cho nhiều máy khác nhau thì hãy làm thêm bước này:

Cho đĩa cài Windows vào máy, tìm thư mục Support\Tools trên đĩa, chọn và giải nén file Deploy.cab lên một thư mục nào đó nằm ngoài phân vùng cài đặt Windows (ví dụ: D:\Deploy\). Chạy file SetupMGR.EXE, chọn Next > Create New > Next >SysPrep Setup > Next, chọn phiên bản Windows XP bạn đang dùng, bấm Next > Yes, Fully automate the installation > Next >. Hãy cẩn thận điền chính xác thông tin vào từng phần (không bỏ dấu tiếng Việt) cho đến khi hiện chữ Finish. Phần Administrator Password nên bỏ trống.

Nhấp Finish, chọn OK trong hộp thoại hiện ra và đóng hộp thoại chương trình lại. Chương trình đã tạo ra thư mục Sysprep trên phân vùng cài Windows. Vào thư mục này, mở file Sysprep.inf bằng Notepad, tìm đến dòng:

AdminPassword=*

và sửa lại là:

AdminPassword=

Mọi dòng khác để nguyên. Hãy lưu lại và copy file này đè lên file sẵn có trong thư mục D:\Deploy\ đã giải nén ban nãy. Tiếp tục chạy file D:\Deploy\SysPrep.exe, chọn OK trong hộp thoại hiện ra, chọn mục Use Mini-Setup và Detect non-plug and play hardware. Trong khung Shutdown mode, chọn Shutdown.

Nhấn Reseal > OK và chờ cho đến khi tắt máy. Kể từ bây giờ, Windows của bạn đã loại hết thông tin phần cứng. Hãy thực hiện việc sao lưu trước khi khởi động lại vào Windows, nếu không mọi việc bạn làm từ bước 1 đến giờ sẽ thành công cốc!

4. Tiếp theo, việc bạn cần làm là chuẩn bị một CD hỗ trợ Hiren’s Boot có chương trình Ghost 8.2 (đây là version ổn định nhất). Boot máy từ CD, chọn Files Manager, Volkov Commander, bật hỗ trợ NTFS (nếu phân vùng cài Windows là NTFS) hoặc bật Enable Long File Name (nếu phân vùng cài Windows là FAT32). Trong môi trường DOS, bạn lần lượt xóa những thư mục và những file sau (giả sử phân vùng cài Windows là C):

- C:\Msdos.sys; C:\Io.sys; C:\Autoexec.bat; C:\Config.sys; C:\Pagefile.sys; C:\Hiberfil.sys

- Toàn bộ các thư mục và file có dạng Found.xxx hoặc Check.xxx (xxx là chuỗi 3 chữ số).

- Thư mục C:\Config.msi\, thư mục C:\System Volume Information\, thư mục C:\Windows\Temp\, thư mục C:\Windows\Prefecth\ và C:\Documents and Settings\ Tên_sử_dụng\Local Settings\Temp\

Thoát khỏi Volkov Commander (phím F10).

5. Làm đến đây coi như xong 99%! Kế đó, cũng trong môi trường DOS, bạn gõ lệnh:

GHOST -Z9

Lệnh này khởi động Ghost với tỉ lệ nén cao nhất. Xong, tiến hành Ghost Windows như bình thường. Khi bạn dùng bản Ghost này phục hồi lại Windows thì chỉ lần đầu chạy hơi lâu một chút vì còn phải nhận dạng phần cứng. O

Thứ Năm, 28 tháng 2, 2008

Tạo playlist cho blog (sưu tầm và bổ sung)

Hiện nay, phong trào làm blog đang ngày càng phổ biến. Trước đây, các blogger thường chỉ viết entry và làm những chùm ảnh trên Slide show. Nhưng các cách đó đã quá lỗi thời, nó dần nhường chỗ cho một trào lưu mới, trào lưu đưa nhạc vào blog. Sau đây, xin hướng dẫn bạn cách đưa nhạc MP3 vào “nhật ký trên mạng”.

Cách 1:

Đầu tiên bạn hãy đăng ký một tại khoản tại đây:
http://www.canthoonline.com:65/ou.php?l=http://www.musicwebtown.com/community/music.php. Sau khi đã hoàn tất thủ tục, bạn hãy sign in vào trang web trên rồi chọn phần "Create New MP3 Playlist" hoặc "Create New Playlist". Tại đây, nhà điều hành sẽ đưa ra một số câu hỏi, bạn hãy trả lời và điền đầy thông tin yêu cầu như: tên album, lời giới thiệu, ảnh minh họa cho album nhạc. Bước tiếp theo, bạn chọn chế độ hiển thị tuỳ thích là public hay private rồi click vào ô Save & Upload MP3(s).
Nguồn: Yahoo

Sau khi đã “nhớ” những bài hát yêu thích, giao diện của musicwebtown sẽ chuyển sang trang mới. Tại ô Upload MP3, bạn hãy chọn đường dẫn tới nơi lưu trữ nhạc và click vào phần Add MP3 và cứ thao tác như vậy cho tới lúc đưa được tất cả các bài hát mà bạn cần. Những ca khúc bạn up lên sẽ xuất hiện ngay sau đó, nếu không muốn để một track nào đó, bạn có thể xoá nó đi bằng cách nhấn vào ô Delete MP3. Để đưa được nhạc MP3 vào blog, bạn cần phải biết code của ca khúc. Để làm được điều này, các blogger hãy chọn Copy Playlist to Website để lấy đoạn code rồi copy. Tại phần Compose blog entry ở blog cá nhân, bạn hãy chọn chế độ HTML và paste đoạn code đã copy rồi post lên như bình thường. Bây giờ bạn đã có một album nhạc MP3 ngay tại blog của mình.

Cách 2:

Hiện nay có rất nhiều trang web cho ta thực hiện điều này. Bài viết này chỉ giới thiệu cách tạo Album nhạc trên trang web Esnips.com, các trang web khác cũng được thực hiện gần như tương tự.

Công việc trước tiên là bạn phải chuẩn bị cho mình những bản nhạc yêu thích. Sau đó bạn phải đăng ký là thành viên của http://www.esnips.com/, với dung lượng lưu trữ lên đến 5 GB tha hồ cho bạn upload nhạc lên mạng. Cách đăng ký thành viên như sau:

Truy cập vào trang web http://www.esnips.com/, bấm vào thẻ “Join Now!”. Tại cửa sổ mới hiện ra nhập email vào “Your e-mail address” và gõ password vào “Choose your password”, tại “Type the letters you see below” gõ dòng chữ nhìn thấy ở phía dưới đồng thời đánh dấu vào “I have read and agree to the terms of use”. Xong thì bấm Create Account, lúc này bạn đã hoàn tất quá trình đăng ký.

Để thuận tiện cho việc phân loại nhạc bạn nên tạo ra những thư mục khác nhau bằng cách vào thẻ folders rồi chọn tiếp “New folder”. Gõ thư mục vào “Give your new eSnips folder a name”. Các lựa chọn “Public Folder” cho tất cả cùng xem, “Group Folder” cho các bạn bè xem và “Private Folder” chỉ mình bạn xem. “Describe it” dùng để gõ những mô tả cần thiết về album nhạc và “Tag it” dùng để gõ những từ khóa cần thiết để cho công việc tìm kiếm dễ dàng.

Khi đã tạo được thư mục rồi thì bây giờ là chỉ cần upload file lên mạng, vào Uploading Files chọn Browse để chọn file cần upload từ máy tính, bấm tiếp Browse để lựa chọn những file nhạc khác, trang web hỗ trợ rất nhiều định dạng nhạc khác nhau. Khi đã upload xong bạn bấm tiếp vào “Go to Folder” trang web sẽ hiện ra những file mà bạn đã upload lên thư mục.

Tích dấu vào đầu tên của bài hát, bấm tiếp vào dòng chữ “Add to Quicklist” ở phía dưới bài hát nó sẽ đổi thành “Go to Quicklist >”. Bấm tiếp “Go to Quicklist >” sẽ hiện ra thanh công cụ Quicklist. Tại thanh công cụ này bạn chọn tiếp “Create playlist widgets”.

Cửa sổ mới xuất hiện bạn có thể chọn một trong hai “widget”, tại “Customize” chọn No để bấm play khi nghe nhạc hoặc chọn Yes để tự động chơi nhạc. Lúc này phía dưới “Copy and paste” bạn đã có đoạn code cho riêng mình.

Công việc bây giờ là copy đoạn code vào blog entry. Và hãy nhớ mời bạn bè vào nghe Album do chính mình vừa tạo ra.

Công việc cuối cùng là khi viết Entry, blogger nên nhớ đánh dấu vào view html source, copy đoạn code embed html rồi dán vào entry là xong.

Cách 3:

Bạn vào website http://amnhac.timnhanh.com, đăng ký cho mình 1 tài khoản. Sau khi đăng ký, bạn có thể bắt đầu upload nhạc, hoặc đơn giản hơn là tìm những bài nhạc có sẵn, tạo 1 playlist, sau đó đưa vào blog, tương tự như 2 dịch vụ trên
Vì giao diện trang timnhanh toàn là Tiếng Việt nên các bạn có thể tự làm việc này không mấy khó khăn đâu, mình sẽ không hướng dẫn nữa


Vấn đề về HISTORY (sưu tầm)

Khi chúng ta ngồi dạo net MỘT MÌNH thì ai cũng nghĩ rằng làm sao thông tin cá nhân của mình tiết lộ ra ngoài được nhỉ khi chỉ cần xóa history và cookie. Nhưng việc suy nghĩ như vậy là hoàn toàn sai lầm. Vì Windows có vài đặc tính log tất cả mọi thứ lại ngay khi bạn đã delete. Chúng ta sẽ đi vào thảo luận vấn đề này ở đây.

Đầu tiên là bạn delete history bằng phương pháp thông dụng là vào Tools>Internet Options>Clear History. Sau đó vào thư mục C:\windows\cookies (đối với windows 98, còn những win khác thì vào C:\Documents and Settings\Administrator\Cookies). Trong thư mục cookies ta sẽ thấy file "index.dat". Bạn có bao giờ tự hỏi rằng file này để làm gì vậy không? Bạn đã từng thử mở nó bằng notepad chưa? Ngay cả khi bạn cố gắng thử delete nó lần nào chưa? Có lẽ câu trả lời là "NO" Bây giờ chúng ta thử xem sao. Mở nó bằng notepad và....bạn sẽ ngạc nhiên khi gặp thông báo là "this file cannot be opened as it is being used by another application". Ok không có vấn đề gì. Copy file này đến một chỗ khác. Bây giờ hãy mở nó bằng notepad. Chắc bạn sẽ rất ngạc nhiên khi thấy tất cả những url mà mình đã vào. Và tiếp theo bạn sẽ làm gì đây. Xóa nó à? Bằng cách nào? Windows không cho phép làm điều đó. Chỉ có 1 cách là bạn phải khởi động lại máy và vào DOS để xóa file đó:
C:\windows> cd cookies [Enter]
C:\windows\cookies> del index.dat [Enter]
Khi ta khởi động vào lại win thì sẽ có 1 file index.dat mới, sạch sẽ được thay thế vào .

Cache Folder
Vẫn chưa an toàn!!! Người ta vẫn còn cách khác là mở thư mục Cache. Phần lớn thư mục này nằm ở "C:\windows\temporary internet files". Khi vô đây, ta sẽ bắt gặp rất nhiều file. Bất cứ khi nào bạn mở một trang web, nó sẽ cất giữ lại ở thư mục này. Và giúp bạn xem nó khi offline. Nhưng những file này thật sự không có thật, chúng chỉ là những link hay shortcut. Còn những file có thực thì lại được cất giấu vào sâu trong các thư mục hệ thống như BT7VHTOX,C52R4X6B,CDIJKLIJ và nhiều ở folder "C:\WINDOWS\Temporary Internet Files\Content.IE5". Và ở đây lại xuất hiện một vấn đề. Bạn không thể xem Content.IE5 trong thư mục Cache. Lý do vì đó là thư mục hệ thống. Để hiểu hơn về thư mục Cache bạn phải làm việc ở môi trường DOS. Ở dấu nhắc DOS, gõ
C:\windows> cd tempor~1 [Enter]
C:\windows\temporary internet files>dir/as [Enter]
Volume in drive C is WIN
Volume Serial Number is 0E4A-1109
Directory of C:\WINDOWS\Temporary Internet Files
DESKTOP INI 67 11-13-02 9:29p desktop.ini
CONTENT IE5



11-09-02 11:34a Content.IE5
1 file(s) 67 bytes
1 dir(s) 8,392.13 MB free
C:\windows\temporary internet files>
lệnh "dir" với '/a' sẽ làm cho hệ thống hiển thị tất cả các loại file dù đó là file ẩn, hệ thống hay những loại khác. Và dùng nó như '/as' sẽ hiển thị tất cả file, thư mục hệ thống. Vì thế chúng ta sẽ lấy được một file desktop.ini và một thư mục content.ie5. Đi vào lại thư mục content.ie5

C:\windows\temporary internet files>cd content.ie5 [Enter]
C:\windows\temporary internet files\content.ie5>dir/as [Enter]
Volume in drive C is WIN
Volume Serial Number is 0E4A-1109
Directory of C:\WINDOWS\Temporary Internet Files\Content.IE5

DESKTOP INI 67 11-09-02 11:34a desktop.ini
U3SR4MU7 11-09-02 11:34a U3SR4MU7
S52BS1IN 11-09-02 11:34a S52BS1IN
CDIJKLIJ 11-09-02 11:34a CDIJKLIJ
BT7VHTOX 11-09-02 11:34a BT7VHTOX
O5QF8XYZ 11-25-02 3:44p O5QF8XYZ
Z3J5HAMP 11-25-02 3:44p Z3J5HAMP
C52R4X6B 11-25-02 3:44p C52R4X6B
CHEBGTEF 11-25-02 3:44p CHEBGTEF
1 file(s) 67 bytes
8 dir(s) 8,384.13 MB free

Ở đây ta thấy được 8 thư mục hệ thống. Và những file thực mà bạn đã thấy trong thư mục Tempor~1 đều được cất giữ ở 8 thư mục hệ thống này. Thực tế Tempor~1 chỉ chứa một file desktop.ini và một thư mục Content.ie5. ( Tôi không hiểu tại sao những người lập trình windows tạo ra cái thư mục cache rắc rối này để làm gì nhỉ !!)

Clearing Cache
Và có thể bạn sẽ rất ngạc nhiên khi biết rằng thư mục cache này chiếm dung lượng rất nhiều, có khi hơn 40MB !! Vì thế hãy clear nó đi. Cách đơn giản nhất là nhấn chuột phải vào ổ đĩa C:\ trong My Computer. Chọn properties. Và nhấn "Disk Cleanup". Nhớ đánh dấu vào "Temporary Internet Files" và nhấn OK. Bây giờ thư mục cache đã hoàn toàn xóa sạch ngoại trừ cookie.

Tính năng hoàn toàn tự động
Thật sự history vẫn chưa được xóa sạch !!! Có những lúc bạn chỉ cần gõ www.s thì ở thanh address sẽ cho bạn một danh sách url mà bắt đầu bằng www.s . Vì vậy nếu bạn đã vào www.somesite.com trước va sau đó một ai muốn vào trang www.site.com , chỉ cần gõ www.n sẽ phát hiện ra trang www.somesite.com !! Đó là một trong những đặc điểm hoàn toàn tự động của windows. Và đôi khi lại rất nguy hiểm đối với bạn Windows cất giữ những URLs này trong thư mục cookies C:\windows\cookies . Hãy xóa những cookie này đi. Ví dụ. nếu tên của trang web là website.com thì tên cookie của site đó sẽ là anyuser@website.com.txt.

Những file history của Office
Trong số chúng ta chắc ai cũng biết khi mở bất kỳ tài liệu nào sau đó nhấn vào menu file thì sẽ thấy được danh sách những file doc gần đây được mở. Ở đây có thể có những file rất quan trọng. Search trên máy của tôi và biết chúng được cất giữ ở thư mục C:\WINDOWS\Application Data\Microsoft\Office\Recent. Thư mục này chứa những shortcut của các file excel, access, ppt, html gần đây được mở ra và ngay cả những thư mục để chứa các file đó nữa. Có một file đặc biệt là index.dat, nó chứa toàn bộ danh sách. Vì vậy nếu bạn không muốn ai biết được tài liệu đó thì nên xóa những file trong thư mục này.

Registry
1. wordpad recentfiles
"HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\
Windows\CurrentVersion\Applets\Wordpad\Recent File List"

2. Recent documents
HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\
Windows\CurrentVersion\Explorer\RecentDocs

3. recent run mrus
HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\
Windows\CurrentVersion\Explorer\RunMRU

4. Shell folders
HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\
Windows\CurrentVersion\Explorer\Shell Folders

5. Doc find mrus
HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\
Windows\CurrentVersion\Explorer\Doc Find Spec MRU

6. days to keep history
HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\
Windows\CurrentVersion\Internet Settings\Url History

7. telnet history
HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Telnet

8. windows media player history
HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\
MediaPlayer\Player\RecentURLList

Sử dụng GHOST để khôi phục hệ thống (sưu tầm)

Tại sao chúng ta phải Ghost?

Vì đó là cách tốt nhất để lưu trữ data, program, driver, cấu hình thiết lập máy, nói chung là mọi thứ trên ổ cứng của bạn. Cái tên Ghost thực sự đã nói lên tất cả về khả năng mà chương trình này có thể làm.

Chương trình Ghost tạo ra một ảnh, thật sự là một tập tin nén khổng lồ chứa tất cả các khối lượng data trên ổ cứng của bạn vào thời điểm mà ta thực hiện ghost, để rồi sau đó ta có thể yên tâm .. vọc cái ổ cứng của mình, fdisk, format, uprage, cài thử một phần mềm mới .... mà không hề lo lắng gì đến dữ liệu cũ của mình, nếu cần thiết, chỉ với vài thao tác đơn giản, một chút thời gian cộng với ly café, bạn đã lại có được một hệ thống y như cũ.

Những hệ điều hành, software, bản FAT nào tương thích với Ghost ?

Ghost không coi trọng điều đó, chính xác hơn, Ghost không hề phân biệt đó là hệ điều hành nào (95, 98, Me, 2K, XP), Software nào (WinZip, Office, Player ...), hoặc bản phân vùng nào (FAT, FAT32, NTFS), mọi tthứ đều bình đẳng trong Ghost và nó coi mọi thứ đều là data, cái nó làm là đặt mọi thứ vào chỗ mà nó cần phải ở đó.

Disk và Partition

Disk hiển nhiên là ổ đĩa, còn Partition ? Đó là Phân vùng đĩa, nếu ta mở Windows lên thấy trong máy tính của ta có ổ C và D, ta nói nó có 2 ổ đĩa, điều này đúng không ? Hiển nhiên là...chưa chắc, nó có thể chỉ là 2 partition.

Một ổ đĩa vật lý (là ổ đĩa mà bạn cầm được trên tay và có giá vài chục tới vài trăm USD), có thể chia thành nhiều partition (ta có thể gọi là các ổ đĩa luận lý), và với mỗi ỗ đĩa luận lý đó ta có thể truy xuất, format từng cái một mà không hề ảnh hưởng tới cái kia, cứ như là nó hoàn toàn tách biệt với nhau. Với dung lượng ổ cứng lớn như hiện nay (vài chục đến vài trăm GigaByte) thì chúng ta nên (chứ không bắt buộc) chia nó thành nhiều ổ luận lý để dễ sử dụng và lưu trữ dữ liệu.

Sử dụng Ghost

Trong phần này, tôi giả sử rằng các bạn có hai ổ cứng luận lý (hai partition) là C và D trên một ổ vật lý. Dữ liệu các bạn cần Ghost là ổ C đang cài Win98SE. Các thông số này chỉ là tượng trưng, nếu các bạn có nhiều hơn 2 ổ cứng, chạy WinMe, 2K, muốn ghost đĩa D chứ không phải C thì vẫn...OK!

Thực hiện



Màn hình khởi động của Ghost
1. Tạo một thư mục bất kỳ, ví dụ như thư mục Ghost nằm trong ổ D, copy file ghost2k3.exe vào đó.

2. Tôi sử dụng Win98, do đó tôi có thể mở Explorer lên và kích đúp vào file ghost2k3.exe để chạy nó. Đối với Win2K hoặc XP, các bạn phải boot DOS từ một đĩa mềm boot được hoặc từ CD boot cũng được, sau khi vào được DOS, các bạn gõ lệnh D:\Ghost\ghost2k3.exe

3. Các bạn sẽ vào được màn hình Ghost


Chọn Local --> Partition To Image
4. Để bắt đầu ghost, các bạn chọn Local, Patition To Image

Chọn ổ đĩa vật lý cần Ghost
5. Chương trình sẽ hỏi ổ đĩa bạn cần Ghost, thường thì nó đúng, cứ nhấn OK



Chọn partition mà bạn muốn ghost
6. Chọn Patition mà bạn muốn ghost, trong trường hợp này, chọn Primary (do tôi muốn ghost ổ C của mình), nhấn OK.



Chọn nơi để lưu file ảnh (image)
7. Chọn nơi mà bạn muốn lưu file ảnh, thông thường ghost lấy luôn thư mục có chứa file ghost.exe làm thư mục mặc định, bạn có thể chấp nhận, vẫn có thể chọn nơi khác. Nhưng chú ý rằng bạn không thể để file ảnh nằm trong Patition mà bạn muốn ghost, trong trường hợp này bạn không thể nào tạo file ảnh nằm trên ổ C được. Gõ tên file ảnh vào và chọn Save, ví dụ tôi gõ Win98SE.



8. Nếu ổ D của bạn trống nhiều thì sẽ không có hộp thoại này, tuy nhiên bạn nên chọn độ nén High để tiết kiệm chỗ trống, cách nén High chỉ chậm hơn không nén một chút mà thôi, không đáng kể.


Chọn Yes khi gặp thông báo "Proceed with partition image creation ?"
9. Hiển nhiên là bạn chọn Yes khi gặp thông báo sau: "Proceed with partition image creation ?"

Vậy là xong, các bạn nên đi...uống café, tuy nhiên hy vọng rằng nhà bạn không bị...cúp điện đột ngột.

Cách phục hồi Patition từ file ảnh

Hiển nhiên các bạn phải khởi động vào DOS, chạy ghost2k3.exe. Đến đây do bạn muốn phục hồi dữ liệu từ ảnh nên hiển nhiên là phải chọn là "From Image" rồi, nhưng CHÚ Ý NGUY HIỂM.


Các bạn chọn Disk hay Patition thì đều có thể chọm "From Image" được, nhưng tại sao có cả 2 tùy chọn này ? Đây là câu trả lời:


- Nếu bạn chọn "Disk from Image" thì sau khi Un-Ghost, bạn chỉ có duy nhất một ổ C mặc dù trước đó bạn có 2 ổ C và D, lý do là tùy chọn này có nghĩa là "Tạo một ổ đĩa từ file ảnh" và do chỉ có một ổ đĩa nên sau khi Un-Ghost, Norton Ghost tự động link 2 Partition lại với nhau tạo thành một Partition duy nhất là C. Tất cả dữ liệu chứa trên D đều bị xóa.

- Nếu bạn chọn "Partition from Image" sau khi Un-Ghost bạn sẽ có 2 ổ đĩa, ổ C chứa dữ liệu mà bạn đã ghost trước đó và ổ D vẫn giữ nguyên tất cả data của nó.

Theo tôi thì các bạn nên chọn cách thứ 2 sẽ an toàn hơn.



Chọn file ảnh để un-ghost
Sau khi chọn "Partition from Image" hoặc "Disk from Image", chương trình sẽ hỏi bạn file ảnh để Un-Ghost, tôi chọn Win98SE.gho, click Open



Chọn partition mà bạn muốn un-ghost
Chọn Patition mà bạn muốn Un-Ghost, ở đây tôi chọn Primary (ổ C, nếu bạn muốn Un-Ghost vào ổ đĩa khác, bạn chọn partition tương ứng), click OK.

Bạn click OK để tiếp tục!

Quá trình...uống café bắt đầu, sau khi chương trình báo hoàn tất, các bạn có thể boot máy lại và nhận thấy...mái nhà xưa.